1. Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Giai đoạn từ năm
1890 đến năm 1911
Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên khai sinh là
Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19/5/1890 tại làng Hoàng Trù (làng Trùa), xã Kim
Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là
Hoàng Thị Loan. Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, từ thuở thiếu thời,
Người đã sớm tiếp thu truyền thống yêu nước, tinh thần nhân ái và ý thức trách
nhiệm đối với dân tộc từ gia đình và quê hương.
Năm 1895, Người theo cha vào Huế và học tại Trường Tiểu học Pháp – Việt Đông Ba, sau này là Trường Quốc học Huế.
Trong khoảng thời gian sống tại Huế – trung tâm chính trị, văn hóa của đất nước,
Người có điều kiện tiếp xúc với sách báo Pháp, nền văn hóa phương Tây và các cuộc
thảo luận về những phong trào đấu tranh chống thực dân của các sĩ phu yêu nước.
Chứng kiến cảnh nước mất, dân bị áp bức,
Người tận mắt thấy sự đối lập gay gắt giữa đời sống cơ cực của nhân dân lao động
và cuộc sống xa hoa của thực dân Pháp. Những cuộc đấu tranh chống sưu thuế của
nông dân bị đàn áp đẫm máu cùng sự thất bại của các phong trào yêu nước đương
thời đã hun đúc trong Nguyễn Tất Thành tinh thần yêu nước sâu sắc, khát vọng giải
phóng dân tộc và niềm tin vào sức mạnh ý chí độc lập, tự cường của nhân dân Việt
Nam.
Giai đoạn từ năm
1911 đến năm 1920
Ngày 5/6/1911, với
tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Sài Gòn, lên tàu Đô đốc Latútsơ
Tơrêvin sang phương Tây tìm con đường cứu nước. Trong những năm bôn ba khắp năm
châu, Người vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách
mạng và thực tiễn xã hội các nước tư bản. Khi trả lời phỏng vấn một nhà báo
Nga, Người nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba
chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái…Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp,
muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy".
Khi được chứng kiến ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam, Người nhận
ra rằng những người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những bọn thực dân
Pháp ở Đông Dương. Từ năm 1911 đến năm 1917, Người đã đến nhiều nước ở châu Á,
châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã tận mắt thấy cuộc sống khổ cực của nhân dân và
những tội ác, thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân. Người cho rằng thế giới chỉ có
hai loại người, người bóc lột và người bị bóc lột nên nhân dân lao động các
nước có thể là bạn của nhau, còn chủ nghĩa đế quốc, bọn thực dân ở đâu cũng là
kẻ bóc lột, là kẻ thù của nhân dân lao động.
Năm 1917, Nguyễn
Tất Thành trở lại Pháp, gia nhập Đảng Xã hội Pháp (1919). Ngày 18/6/1919, thay
mặt những người Việt Nam yêu nước tại
Pháp, Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxai
Bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi Chính phủ Pháp và các nước
đồng minh thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết
của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách không được chấp nhận. Vì vậy, Người khẳng
định: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực
lượng của bản thân mình".
Tháng 7/1920,
Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin trên báo L'Humanité (Nhân Đạo) của
Đảng Xã hội Pháp. Khi đọc Luận cương của Lênin, Người hiểu hơn
về chủ nghĩa Lênin, Quốc tế Cộng sản, về cách mạng vô sản, về phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới, Người viết: "Luận cương của Lênin làm cho tôi
rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát
khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần
chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng
ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Từ bản Luận
cương của Lênin, Người đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản
của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản,
trong đó có cách mạng Việt Nam.
Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua. Người đứng về phía đa số đại
biểu Đại hội bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập
Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu bước chuyển biến căn bản từ chủ nghĩa yêu nước
sang chủ nghĩa cộng sản.
Giai đoạn từ năm
1920 đến năm 1930
Năm 1921, Nguyễn
Ái Quốc cùng một số người yêu nước của Angiêri, Ma rốc, Tuynidi,… lập ra Hội
Liên hiệp thuộc địa ở Pari để tập hợp tất cả những người dân thuộc địa sống
trên đất Pháp cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Báo Người cùng khổ
(Le Paria), Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút là cơ quan ngôn luận của Hội, xuất
bản bằng tiếng Pháp năm 1922. Trong bài Lời kêu gọi đăng ở số báo đầu
tiên, Người cũng chỉ ra mục đích của tờ báo là đấu tranh để giải phóng con
người. Người còn viết bài cho báo Nhân đạo (Đảng Cộng sản Pháp), Đời sống công
nhân (Tổng Liên đoàn Lao động Pháp),…và đặc biệt là viết cuốn Bản án chế độ
thực dân Pháp (xuất bản ở Pari năm 1925). Trong thời gian hoạt động ở Quốc tế
Cộng sản, Người chỉ ra tình cảnh của giai cấp công nhân, nông dân nghèo ở các
nước thuộc địa đang chết dần vì đói rét, bệnh tật và kêu gọi Quốc tế Cộng sản
giúp đỡ họ.
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp
sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm 1923, tại Hội
nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế
Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ
tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc
tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Người kiên trì
bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc
địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.
Tháng 11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản
và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung
Quốc). Tại Quảng Châu Nguyễn Ái Quốc vừa làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của
Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên; vừa tìm hiểu và tiếp xúc với
những người Việt Nam đang hoạt động tại đây. Nguyễn Ái Quốc đã chọn một số
thanh niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng.
Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đường Kách mệnh”
- một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ
sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.
Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra tuần báo
“ Thanh niên ” số đầu tiên ngày
21/6/1925, tờ báo cách mạng
đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua báo chí và các hoạt động thực tiễn, Người tích
cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam. Người khẳng định: "Lực lượng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có
Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi". Người chỉ rõ
cách mạng Việt Nam phải có đảng lãnh đạo, có chủ nghĩa Mác-Lênin làm nòng cốt.
1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng
Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), sau đó đi Ý và từ đây về
châu Á và hoạt động
trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan) lấy bí
danh là Thầu Chín, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
6/1-8/2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức
cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng) thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị thống
nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái
Quốc soạn thảo, các văn kiện này trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng. Bản Cương lĩnh chính trị thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ giai cấp-dân tộc- quốc tế
về đường lối cách mạng Việt Nam.
Giai đoạn từ năm
1930 đến năm 1945
Tháng 10/1930,
Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt
Nam họp quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt
Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức do
Trần Phú làm Tổng Bí thư và thông qua Luận cương chính trị của Đảng.
Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc
bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả
tự do
Tháng 10/1934,
Người được vào học Trường Quốc tế Lênin, Người học đầy đủ các môn lý luận cơ
bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và những phương pháp học tự nghiên cứu kết hợp với
thực tế. Cuối năm 1936, Người trúng tuyển vào lớp nghiên cứu sinh, ngành lịch
sử của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Năm 1937, Người dự kỳ
thi học kỳ I của lớp nghiên cứu sinh đạt kết quả tất cả các môn học. Do chiến
tranh ngày một ác liệt, Người không thể yên tâm ngồi học mà nóng lòng muốn trở
về nước hoạt động. Năm 1938, Người đã gửi thư cho Quốc tế Cộng sản bày tỏ
nguyện vọng được về nước.
Ngày 28/01/1941, tại Cột mốc 108
Bác Hồ đã trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng
dân tộc. Người đã chọn Pác Bó - Cao Bằng là nơi dừng chân đầu tiên khi trở về để
lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng
của dân tộc.
Tháng 05/1941,
Hội nghị Trung ương lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp
tại Pác Bó (Cao Bằng) dưới sự chủ trì của Người. Hội nghị đã đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu, Người khẳng định: "Trong lúc này quyền lợi
dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế
quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng".
Để tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, tranh thủ mọi lực lượng yêu nước
chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù. Hội nghị
quyết định thành lập "Việt Nam độc lập đồng minh", gọi tắt là Mặt
trận Việt Minh vào ngày 19/05/1941.
Tháng 8/1942, lấy tên
là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc
Hiệp hội Quốc tế tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối chống phát xít trên chiến
trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt
giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị
tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng
9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (nay thuộc
xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập,
là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh
rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) tiến hành Hội nghị toàn quốc của
Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân bầu
ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch
Ngày 18/08/1945,
Người viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Người viết: "Giờ
quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem
sức ta mà tự giải phóng cho ta". Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 thành công, lật đổ chế độ phong kiến, lật đổ ách thống trị
của thực dân Pháp và giành lại độc lập dân tộc từ tay phát xít Nhật. Đây là
thắng lợi to lớn của dân tộc vừa là sự kế thừa truyền thống của cha ông ta
trong lịch sử, vừa là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin và
sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 02/09/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình
đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những
quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Bản tuyên ngôn khẳng định "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc
lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết
đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do
và độc lập ấy". Bản Tuyên ngôn độc lập là một
văn kiện lịch sử có giá trị to lớn, trong đó độc lập, tự do gắn với phương
hướng phát triển lên chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chính trị cốt lõi vốn đã được
Người phác thảo lần đầu trong Cương lĩnh của Đảng năm 1930.
Giai đoạn từ năm
1945 đến năm 1969
Thực dân Pháp theo
sau quân đội Anh đã nổ súng ở Nam Bộ xâm lược Việt Nam lần hai. Ở miền Bắc thì
hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng và nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Vận mệnh dân tộc lúc đó như "ngàn cân treo sợi tóc",
Người đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh hiểm trở.
Người cùng Trung ương Đảng một mặt lãnh đạo đồng bào Nam Bộ kháng chiến, mặt
khác chăm lo xây dựng Đảng, củng cố chính quyền non trẻ, đẩy lùi giặc đói, giặc
dốt, khắc phục nạn tài chính thiếu hụt.
Ngày 19/12/1946,
Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: "Dù phải gian
lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về
dân tộc ta!". Người đề ra đường lối kháng chiến lâu dài,
toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Người lãnh
đạo, tổ chức, chỉ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và kiên quyết chiến đấu
bảo vệ tổ quốc với ý chí: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".
Ngày 17/02/1947, cuộc chiến đấu ở các đô
thị phí Bắc vĩ tuyến 16 kết thúc, quân ta rút khỏi vòng vây của địch ra căn cứ
an toàn.
Ngày 07/10/1947 – 19/12/1947, Chiến dịch
Việt Bắc diễn ra và kết thúc buộc Pháp chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang
“đánh lâu dài”.
Ngày 16/9 đến 14/10/1950, Người trực tiếp
chỉ huy Chiến dịch Biên giới diễn ra trong 29 ngày đã giành thắng lợi, phá sản
kế hoạch Rơve, quân đội ta giành thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ.
Năm 1951, Người
cùng Trung ương Đảng quyết định triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở xã Vinh
Quang (Chiêm Hoá – Tuyên Quang) đã thông qua hai bản báo cáo quan trọng và quyết
định đưa Đảng ra công
khai với tên là Đảng Lao động Việt Nam và bầu Người làm Chủ tịch Ban chấp hành
Trung ương Đảng. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh mới, Điều lệ mới của Đảng đề
ra chủ trương, đường lối đúng đắn, giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp nhằm động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đẩy mạnh kháng chiến đưa
đến thắng lợi ở Điện Biên Phủ lịch sử (năm 1954) lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu. Người chỉ đạo, động viên cán bộ chiến sĩ trên mặt trận và truyền thêm
sức mạnh, ý chí quyết chiến quyết thắng, một niềm tin sắt đá để quân và dân ta
vượt qua mọi khó khăn, gian khổ giành thắng lợi. Tháng 7/1954, Hiệp định
Giơnevơ được ký kết, miền Bắc Việt Nam được giải phóng, nhưng miền Nam vẫn bị
đế quốc Mĩ xâm lược. Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng
thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Năm 1960, Đại hội
lần thứ III của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng
và Người nêu ra hai nhiệm vụ chiến lược: "Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà". Cả
hai nhiệm vụ đều nhằm mục tiêu chung là củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất
nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ. Người còn nêu rõ miền Bắc là hậu phương
lớn, có vai trò quyết định đối với cách mạng cả nước, miền Nam có vai trò quyết
định trực tiếp đối với hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Để đưa
miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn cho cuộc đấu tranh giải
phóng miền Nam, Người nhấn mạnh "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có
người xã hội chủ nghĩa". Con người mới xã hội chủ nghĩa
là những người có đạo đức và tri thức, là những người vừa "hồng" vừa
"chuyên" và có ý thức làm chủ, xây dựng nước nhà. Người lãnh
đạo nhân dân miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng chiến tranh phá
hoại của giặc Mĩ, đồng thời ra sức hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho cách mạng
miền Nam. Người cũng luôn tin tưởng và khẳng định sự tất thắng của cách mạng
miền Nam. Người nêu rõ: "Để giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân,
quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải
thống nhất, hành động phải nhất trí". Người còn
viết Thư gửi đồng bào cả nước vạch trần những âm mưu trong
nước và thế giới về những hành động sai trái của đế quốc Mĩ, Người khẳng định: "Nước
Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp
một nhà". Đây là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian
khổ, đòi hỏi toàn thể đồng bào phải quyết tâm kháng chiến.
Năm 1965, trước thất bại của chiến lược "chiến tranh
đặc biệt", đế quốc Mĩ đã chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục
bộ". Chúng dùng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện hiện đại đẩy mạnh chiến
tranh phá hoại bằng hải quân, không quân kể cả máy bay chiến lược B.52. Trước
những hành động leo thang xâm lược tàn bạo của đế quốc Mĩ, Người đã ra Lời
kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước và khẳng định: "Dù phải chiến
đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu
đến thắng lợi hoàn toàn". Người đã ra Lời kêu gọi
đồng bào và chiến sĩ cả nước, Người nói: "Chiến tranh có thể
kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số
thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!
Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng
lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!".
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, đồng bào và chiến sĩ từ hậu phương đến
tuyền tuyến đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với tinh thần dũng
cảm đã đoàn kết chiến đấu lần lượt đánh thắng mọi chiến lược của kẻ thù và
giành được thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
Ngày 02/9/1969,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời, Người
để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng lại
đất nước sau chiến tranh nhằm thực hiện mục tiêu: "Xây dựng một nước
Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới". Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá,
kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người đã
suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – người mở đường cho kỷ nguyên độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam. Người đã vạch đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người luôn là tấm gương sáng ngời cho chúng ta học tập và noi theo. Ngày nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần được mỗi chúng ta thực hiện một cách tự giác, thường xuyên và đi vào chiều sâu, biến những nhận thức tư tưởng thành kết quả hành động thực chất.
*Chú thích:
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.2011, tập 1,tập 3, 6, 10, 12, 13, 14,15
Trần Dân Tiên: Những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975.
Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc
lần thứ nhất Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – Văn kiện Đảng, Toàn
tập, Tập 1, BXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà
Nội, 2016.
2. INFOGRAPHIC - Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nguồn: Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh